Giải pháp nâng cao chất lượng thu thập tài liệu, chứng cứ trong giải quyết án dân sự

Hiện nay việc tranh chấp về dân sự diễn ra ngày càng gay gắt nhất là lĩnh
vực tranh chấp liên quan có liên quan đến đất đai. Do đó, đòi hỏi việc giải quyết
đúng pháp luật vừa là trách nhiệm, cũng là vinh dự của hệ thống Tòa án nhân
dân được Đảng và Nhà nước giao cho. Để nâng cao chất lượng giải quyết dân sự
tôi mạnh dạn cần có một số giải pháp như sau:
a. Xác định điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ:
– Thứ nhất, cần xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp: Khi xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp chúng ta thường phải dựa vào yêu cầu của
đương sự và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự
tham gia. Để giải quyết vụ án dân sự được chính xác, triệt để, tránh việc phải giải
quyết đi, giải quyết lại nhiều lần không những gây khó khăn, mệt mỏi cho các
đương sự mà còn cho chính các cơ quan tiến hành tố tụng thì một trong những
nội dung quan trọng nhất chính là xác định quan hệ pháp luật tranh chấp. Từ việc
xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ dẫn đến xác định đúng thẩm
quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện và chứng cứ cần thu thập vì chứng cứ cần
thu thập trong các vụ án tranh chấp dân sự có những đặc thù riêng.
– Hồ sơ còn thiếu chứng cứ: Cần kiểm tra xem những tài liệu chứng cứ
do đương sự cung cấp đã đủ để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hay chưa,
cần phải thu thập thêm tài liệu chứng cứ nào, kiểm tra tính hợp pháp của chứng
cứ và nguồn chứng cứ. Sau khi kiểm tra ghi chép cụ thể từng loại và những sai
sót cần được bổ sung để nghiên cứu sâu hơn về nội dung vụ án.
b. Yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ nhưng đương sự
không thu thập giao nộp được và đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ.
Nếu chứng cứ mà đương sự giao nộp còn thiếu, yêu cầu đương sự giao
nộp chứng cứ bổ sung. Hình thức yêu cầu là bằng văn bản thông báo. Về nội
dung, Thông báo phải ghi rõ chứng cứ mà đương sự cần giao nộp bổ sung là

2
chứng cứ gì, hậu quả pháp lý nếu đương sự không giao nộp chứng cứ đó. Việc
yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ còn thiếu có thể kết hợp khi ghi biên bản lấy
lời khai của đương sự. Dù với cách thức nào, thì yêu cầu đương sự giao nộp
chứng cứ bổ sung cũng phải được thể hiện bằng văn bản để lưu trong hồ sơ vụ
án.
c. Kỹ năng tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự
* Ghi lời khai của đương sự
– Trước khi lấy lời khai đương sự, Thư ký và thẩm phán cần trao đổi trước
về những nội dung cần lấy lời khai, các tình huống có thể phát sinh trong quá
trình ghi lời khai để khi ghi lời khai của đương sự, thư ký không bị động. Việc
ghi lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai
chưa đầy đủ, rõ ràng. yêu cầu của các bên đương sự, các căn cứ pháp lý và
chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của các đương sự
Đối với đương sự quy định tại khoản 4,5 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự là
đương sự chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; đương sự từ
đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Trong
trường hợp lấy lời khai của họ thì phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và
người đại diện hợp pháp phải ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai.
Sau khi lấy lời khai thì bản thân yêu cầu người khai tự đọc hoặc được đọc
lại cho nghe. Người khai phải ký vào biên bản xác nhận, nếu người khai không
biết chữ thì điểm chỉ xác nhận. Trường hợp biên bản được ghi thành nhiều trang
rời nhau thì phải ký hoặc điểm chỉ vào từng trang. Nếu người khai không ký thì
phải yêu cầu họ phải cho biết và ghi rõ lý do vì sao không ký. Nếu đã giải thích
họ vẫn không ký, không nêu lý do thì đề xuất Thẩm phán yêu cầu mời người
chứng kiến xác nhận sự việc và ký tên vào biên bản.
* Ghi lời khai của người làm chứng

3
– Phương pháp ghi lời khai và cách ghi biên bản người làm chứng: Về căn
bản phương pháp lấy lời khai và cách ghi biên bản người làm chứng giống
phương pháp và cách ghi biên bản lấy lời khai đương sự. Ngoài ra có một số
điểm cần chú ý: Nếu người làm chứng là người thân thích, gần gũi với đương sự
như cha, mẹ, vợ, chồng, con … hoặc bạn bè thân thích thì trong biên bản cũng
phải ghi rõ quan hệ đó. Trong biên bản ghi lời khai phải có các nội dung cam
đoan đã được Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ, cam đoan khai báo trung
thực trước Tòa án, cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của
mình (Theo mẫu biên bản ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).
* Đối chất:
Khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai
của các đương sự, người làm chứng, tiến hành đối chất giữa các đương sự với
nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với
nhau theo thứ tự hợp lý.
* Xem xét thẩm định tại chỗ
Đối với những vụ án tranh chấp có liên quan đến việc xem xét thẩm định
tại chỗ thì cần ban hành các quyết định, văn bản tố tụng liên quan đến việc xem
xét, thẩm định tại chỗ. Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ phải lập theo đúng
trình tự thủ tục và ghi chép rõ ràng. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm
định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký
hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được
xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm
định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức
nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.
Võ Thị Tám

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Chi bộ Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên với những đổi mới trong công tác xây dựng Đảng và học tập làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh.

Trước những vận hội mới, thời đại công nghệ 4.0 tiến tới xây dựng chính …

X