Một số yêu cầu và giải pháp để thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách Tư pháp Hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005, của Bộ Chính
trị về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”, những kết quả đạt được về nhiều
mặt đã tạo nên một số tiền đề và điều kiện cần thiết cho những cải cách cơ bản, sâu
rộng hơn trong thời gian tới. Cùng với việc đổi mới nhận thức về xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công cuộc cải cách tư pháp nói chung
cũng như cải cách tư pháp hình sự nói riêng cũng bước sang giai đoạn nước rút, đòi
hỏi phải có sự cải cách quyết liệt và đột phá, nhằm tạo ra những biến đổi về chất trên
tất cả các phương diện nhận thức lý luận, thể chế, tổ chức và hoạt động của hệ thống
tư pháp.
Mục tiêu cải cách tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng trong thời kỳ
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: xây dựng nền tư pháp trong
sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục
vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó cải cách tòa án
và hoạt động xét xử là trung tâm của cải cách tư pháp với khâu đột phá là mở rộng
tranh tụng dân chủ trong xét xử.
Để thực hiện tốt công tác cải cách tư pháp hình sự hiện nay, tác giả xin nêu
một số ý kiến, quan điểm cá nhân như sau:
1. Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa có hiệu
quả và xử lý kip thời, nghiêm minh các loại tội phạm.
Suy cho cùng, mục đích tồn tại của tố tụng hình sự chính là vấn đề phát hiện tội
phạm và xử lý tội phạm. Bộ máy các cơ quan tiến hành tố tụng, các thủ tục tố tụng
được bố trí sắp xếp, kiện toàn cũng là để thực hiện tốt mục tiêu này.
Thời gian qua: thực hiện chủ trương cải cách tư pháp đề ra trong các Nghị quyết
của Đảng, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có những
chuyển biến tích cực. Tỷ lệ phát hiện tội phạm đạt cao (trên 70%), trong đó án rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt gần 95% số vụ phạm tội xảy ra, việc bỏ lọt
tội phạm và người phạm tội được hạn chế một cách căn bản. Song, trên thực tế: vẫn
còn một số lượng vụ án hình sự chưa được phát hiện và đưa ra xử lý, tình hình tội
phạm tiếp tục có những diễn biến phức tạp, số vụ phạm tội tăng đáng kể, với tính
chất. thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, đối tượng phạm tội ngày càng đa dạng,
xuất hiện ngày càng nhiều sự móc nối giữa đốt tượng phạm tội ở trong nước với các
tổ chức tội phạm ở nước ngoài v.v. Tình hình này đặt ra yêu cầu đối với công cuộc
cải cách thủ tục tố tụng hình sự phải tạo ra các quy trình, thủ tục tố tụng thật sự khoa
học, hợp lý để ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội
phạm. Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải không ngừng
được bồi dưỡng kiến thức pháp luật: kỹ năng nghiệp vụ, tăng cường tính chuyên
nghiệp, tính nhanh nhạy. được đầu tư tối tân về cơ sở vật chất, kỹ thuật để đáp ứng
ngày càng cao yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

2. Cải cách tư pháp hình sự cần phải đi đôi với việc bảo đảm và tôn trọng
quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Là quá trình phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, tố tụng hình sự phải
đảm đương vai trò là công cụ sắc bén và đầy hiệu lực của Nhà nước và xã hội trong
việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm phát
hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những người có hành vi phạm tội. Tuy nhiên,
mục tiêu đó không cho phép đạt được bằng mọi giá. Đặc biệt, trong điều kiện toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân ta đặt quyết tâm chính trị đẩy mạnh quá trình xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền thì yêu cầu đối với quá trình đấu tranh phòng,
chống tội phạm là phải hết sức chú trọng đến mục tiêu đề cao công lý, không làm
oan người vô tội, bảo vệ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và
công dân, phải xem đây là yêu cầu tối quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án.
Thời gian qua, về mặt xây dựng và hoàn thiện thể chế, chúng ta đã tiếp tục ghi
nhận những nguyên tắc pháp lý tiến bộ của văn minh pháp lý nhân loại và làm sâu
sắc thêm những nguyên tắc này, đó là nguyên tắc bảo đảm quyền sống tự do và an
ninh cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách
bình đẳng, quyền được bình đẳng trước toà án, được xét xử công bằng, công khai bởi
một toà án độc lập, không thiên vị và được coi là vô tội cho đến khi hành vi phạm tội
được chứng minh theo pháp luật tại một phiên toà công khai và công bằng . .; đã có
những điều chỉnh khá cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo và người bào chữa để tăng cường cho các chủ thể này các cơ hội tham gia tích
cực hơn, đầy đủ hơn vào hoạt động tố tụng hình sự, bổ sung các quy định đề cao
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm
hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp
pháp của người tham gia tố tụng. . . Trong quá trình giải quyết vụ án các yêu cầu về
tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng
đã được quán triệt và triển khai thực hiện trên thực tế, chủ trương "nâng cao chất
lượng tranh tụng tại phiên toà" được áp dụng và bước đầu tạo không khí dân chủ
trong các phiên toà.
Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết
những vấn đề bức xúc nhất. Tình trạng vi phạm các quyền của công dân trong hoạt
động điều tra, bắt tạm giữ, tạm giam vẫn còn xảy ra ở một số nơi, có vụ việc gây
nhiều bức xúc trong dư luận. Chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên
toà" chưa đi vào chiều sâu và chưa thực sự phát huy hiệu quả. Tư duy trong giải
quyết vụ án hình sự vẫn đặt sự quan tâm nhiều hơn ở nhiệm vụ giữ vững an ninh
chính trị trật tự an toàn xã hội, nhiệm vụ đề cao công lý bảo vệ quyền con người,
quyền công dân vẫn chưa giành được vị trí ưu tiên bảo vệ đúng như tầm quan trọng
của nó 5 ….
Vì vậy, cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu tăng cường hơn nữa tính
dân chủ, bảo đảm tốt hơn nữa các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong

thực tiễn giải quyết vụ án hình sự phải đứng trên quan điểm đó để chứng minh tội
phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.
3. Bảo đảm sự công bằng, bình đẳng thực sự giữa các bên (bên buộc tội và
bên gỡ tội) trong suốt quá trình đi tìm sự thật của vụ án
Công bằng, bình đẳng luôn là yêu cầu quan trọng của quá trình giải quyết vụ án
hình sự, được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.Một nền tư
pháp tiến bộ là nền tư pháp phải bảo đảm cho các chủ thể thực hiện chức năng buộc
tội và chức năng bào chữa có các cơ hội, điều kiện như nhau trong việc bày tỏ quan
điểm và bảo vệ quan điểm của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Sự đấu
tranh, vận động giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa càng dân chủ, bình
đẳng bao nhiêu thì quá trình tìm kiếm chân lý càng được bảo đảm bấy nhiêu.
Thời gian qua: về mặt xây dựng và hoàn thiện thể chế, chúng ta đã có những
sửa đổi, bổ sung nhằm tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện
quyền bào chữa hiệu quả hơn; người bào chữa có quyền tham gia tố tụng sớm hơn,
các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa của họ từng bước
được mở rộng. Tuy nhiên, xét cả trên bình diện pháp lý và thực tiễn, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo chưa được xem là một bên trong quan hệ tố tụng, thậm chí nhiều
trường hợp, gần như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tính
thụ động và bị lệ thuộc của người bào chữa vào các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn là
điểm dễ nhận thây trong tố tụng hình sự nước ta. Người bào chữa chưa được đảm các
điều kiện cần thiết để trở thành một bên bình đẳng với bên buộc tội trong quá trình đi
tìm sự thật khách quan của vụ án v.v. Những vướng mắc, bất cập nêu trên đã ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, đến yêu cầu xây
dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng nghiêm minh, bảo vệ công lý, ảnh hưởng
đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo và đặc biệt là đã không tạo ra được cơ chế
pháp lý hữu hiệu để thúc đầy các cơ quan tiến hành tố tụng tự hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả hoạt động của mình trước sự đối trọng, phản biện tích cực từ bên bào chữa.
Xuất phát từ yêu cầu đó, quá trình cải cách tư pháp hình sự phải tạo ra các quy
trình, thủ tục tố tụng hợp lý khoa học nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa chủ
thể thực hiện chức năng buộc tội và chủ thể thực hiện chức năng bào chữa, tạo các
cơ hội, điều kiện bình đẳng giữa các bên trong việc đưa ra chứng cứ, bảo vệ quan
điểm của mình, bảo đảm cho các bên phản ánh được hết quan điểm lập luận của
mình với toà án một cách trực tiếp.
4. Cần phải xác định đúng đắn quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng cho
phù hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, đề cao trách nhiệm của
các cơ quan tiến hành tố tụng trước dân, trước Nhà nước
Phân định đúng đắn, chính xác quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể cho phù
hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc
bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của tố tụng hình sự, giúp cho các hoạt động tố tụng được
tiến hành có tính chuyên nghiệp cao tăng cường trách nhiệm của các chủ thể trong
việc thực hiện chức năng tố tụng được giao. Xuất phát từ nguyên tắc này, cải cách

thủ tục tố tụng hình sự phải hướng đến việc phân định hợp lý quyền, nghĩa vụ của
các chủ thể cho phù hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, loại bỏ các
quy định mâu thuẫn, chồng lấn chức năng tố tụng; loại bỏ sự phối hợp giữa các chức
năng tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là sự phổi hợp giữa chức năng
buộc tội và chức năng xét xử. Bổ sung các biện pháp chế tài áp dụng đối với các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm các quy định tố tụng làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Mọi thiệt hại do cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây ra cho cá nhân tổ chức trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự đều phải được bồi thường theo pháp luật. Thực thi một
nền tư pháp nghiêm minh, trách nhiệm trước dân trước Nhà nước…
5. Xây dựng và từng bước nâng cao chất lượng hệ thống tố tụng hình sự
theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện.
Công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện, bảo đảm quyền tiếp cận, quyền tham
gia của công dân luôn là đòi hỏi đối với quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Là
một dạng hoạt động quyền lực nhà nước (quyền tư pháp), hoạt động tư pháp hình sự
một mặt phải bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chồng tội
phạm, đồng thời quá trình vận hành các thủ tục tố tụng hình sự phải đáp ứng yêu cầu
về tính công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện, dễ tiếp cận đối với người dân. Xuất
phát từ yêu cầu này việc cải cách tư pháp hình sự cần loại bỏ những thủ tục rườm rà,
phức tạp, gây phiền hà cho người dân tiếp cận công lý, tiếp cận với quá trình giải
quyết vụ án; bổ sung các nội dung nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch của
các quy định, thủ tục tố tụng hình sự… Không thể vì lý do cần giữ bí mật điều tra mà
gây khó khăn, tạo nên những cách trở giữa người dân với quá trình giải quyết vụ án.
6. Bảo đảm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám sát
hoạt động tố tụng hình sự
Trong Nhà nước pháp quyền, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là
một hoạt động tất yếu và luôn giữ vị trí đặc biệt trong việc tổ chức và thực thi quyền
lực nhà nước nhằm bảo đảm cho các quyền đó làm đúng chức năng, nhiệm vụ của
mình, không vượt khỏi phạm vi thẩm quyền, chức năng đã được xác định. Xã hội
càng phát triển quá trình dân chủ hoá trong xã hội càng được mở rộng thì yêu cầu
kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước càng cao.
Hoạt động tư pháp hình sự có nhiệm vụ xem xét, đưa ra các phán quyết về tính
đúng hay sai là tội phạm hay không phải là tội phạm, hình phạt áp dụng, khôi phục
lại trật tự xã hội đã bị xâm phạm, bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của công
dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội. Đồng thời, quá trình thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ đó, pháp luật trao cho các cơ quan tư pháp thẩm quyền áp dụng những biện
pháp cưỡng chế tố tụng như biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam . . . như vậy, hoạt động
tư pháp hình sự mang trong nó những thẩm quyền mạnh mẽ và có khả năng ảnh
hưởng đến các quyền cơ bản nhất của con người như quyền tự do, quyền sống. Xuất
phát từ các đặc điểm đó, hoạt động tư pháp hình sự cần và phải chịu sự kiểm tra,

giám sát chặt chẽ của nhiều cơ chế kiểm tra, giám sát khác nhau. Chính sự kiểm tra
giám sát chặt chẽ sẽ là điều kiện bảo đảm cho phán quyết của tư pháp là một giá trị
không gì có thể thay thế được, bảo đảm tính hiệu lực thi hành của các phán quyết tư
pháp.
Yêu cầu tăng cường các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tư pháp đã được
đặt ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết 08-NQ/TW nhấn mạnh: "Viện
kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong hoạt động tư pháp . . Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ,
bảo đảm đúng pháp luật. . . Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân, của tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác tư pháp. Công tác giám sát
của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan tư pháp tập trung vào việc
chấp hành pháp luật trong lĩnh việc bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành
án và giám sát việc ban hành các văn bản pháp luật về lĩnh vực tư pháp".Nghị quyết
49-NQ/TW tiếp tục yêu cầu: "Tăng cường kiểm tra, thanh tra và có cơ chế thanh tra,
kiêm tra từ bên ngoài đối với hoạt động của các chức danh tư pháp. . . Tăng
cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư
pháp…”. Vì vậy, cải cách tư pháp hình sự phải tiếp tục hướng tới việc xây dựng các
cơ chế giám sát đồng bộ, hợp lý và có hiệu lực. Các cơ chế kiểm tra, giám sát được
xây dựng đồng bộ, hợp lý sẽ luôn là một trong những bảo đảm cho guồng máy tố
tụng tư pháp hoạt động hết công suất, đồng thời tránh được tình trạng lạm quyền,
làm ảnh hưởng đến quyền công dân mà trực tiếp nhất là quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Mở rộng
khả năng tham gia của người bào chữa, cá nhân, các cơ quan dân cử, các tổ chức xã
hội vào hoạt động giải quyết vụ án nhằm tăng cường các kênh giám sát đối với hoạt
động tư pháp.
7. Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách hình
sự trong thời gian tới.
Thực chất mối quan hệ giữa Luật Hình sự với Luật tố tụng Hình sự là mối quan
hệ giữa luật nội dung và luật hình thức. Trong mối quan hệ này, nội dung có ý nghĩa
quyết định hình thức. Nghị quyết 49-NQ/TW đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc hoàn
thiện, đổi mới chính sách hình sự như: giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt
tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm, quy định là tội
phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế v. v. Do vậy, cải cách
thủ tục tố tụng hình sự phải đáp ứng kịp thời những thay đổi về chính sách hình sự
trong thời gian tới.

Võ Thị Tám

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Chuyên đề: Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Thể dục, Thể thao. Sinh thời, Chủ tịch Hồ …

X